Ngành công nghiệp thực phẩm ở Việt Nam – Những điểm đáng chú ý về Thuế, Luật và Kế toán

Bài viết của Mazars trên Tạp Chí Connect Số 5 | Tháng 9 năm 2018.
Văn bản này là tài sản trí tuệ thuộc sở hữu của Mazars, ban đầu được Hội doanh nghiệp Pháp ở Việt Nam (CCIFV) sử dụng và bây giờ được dùng cho các nghiên cứu chung.

Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy mức tiêu thụ thực phẩm hàng năm của Việt Nam ước tính chiếm khoảng 15% GDP. Trong năm năm qua, mức tiêu thụ trung bình hàng năm của thực phẩm chế biến sẵn và đồ uống tăng lần lượt ở mức 9,68% và 6,66%.

Theo dự báo của BMI Research, ngành công nghiệp thực phẩm của Việt Nam dự kiến ​​sẽ đạt gấp đôi mức tăng trưởng hàng năm (10.9%) trong giai đoạn 2015 - 2020, nhờ đó trở thành một thị trường vô cùng hấp dẫn với các nhà đầu tư.

Thâm nhập thị trường

Ngành công nghiệp thực phẩm đang ở ngưỡng tăng trưởng vượt bậc, đóng góp đáng kể cho thương mại Việt Nam trong những năm gần đây. Tại Việt Nam, ngành thực phẩm được xem như một ngành có tăng trưởng và lợi nhuận cao nhờ tiềm năng to lớn của giá trị gia tăng của nó, đặc biệt trong ngành sản xuất thực phẩm và các ngành dịch vụ nhà hàng & ăn uống (F&B.) Theo nghiên cứu của MUTRAP EU-Việt Nam và VCCI, năm 2016, có khoảng 9.000 doanh nghiệp và hàng ngàn cơ sở sản xuất quy mô nhỏ tham gia sản xuất thực phẩm (không bao gồm nhà sản xuất và bán trực tiếp, nhà bán lẻ và người bán thực phẩm và đồ uống).

Chính phủ Việt Nam đã mở cửa thị trường tiếp nhận các khoản đầu tư nước ngoài vào tất cả các hoạt động liên quan đến ngành công nghiệp thực phẩm, từ trồng trọt, chế biến thực phẩm, sản xuất thực phẩm đến thiết lập chuỗi nhà hàng hoặc hoạt động bán buôn/bán lẻ. Có thể thấy rõ trong những năm gần đây, nhiều công ty quốc tế đã nắm bắt cơ hội này để gia nhập vào thị trường Việt Nam. Thành lập công ty mới là một cách tiếp cận đơn giản cho các nhà đầu tư nước ngoài đến ngành công nghiệp hấp dẫn này. Về căn bản, các nhà đầu tư nước ngoài phải tuân theo các thủ tục được quy định trong luật hiện hành: dù là thành lập đơn vị hoàn toàn thuộc sở hữu nước ngoài hay liên doanh với đối tác Việt Nam, các chứng chỉ bắt buộc cần có là Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“IRC”) và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”). Bên cạnh các giấy phép phụ khác cần phải được hoàn thành trước và trong quá trình hoạt động (ví dụ như chứng nhận an toàn thực phẩm bắt buộc với các nhà sản xuất và buôn bán thực phẩn; chứng nhận bảo đảm vệ sinh đối với các loại thực phẩm tươi sống từ động vật, v...v…)

Một phương án đầu tư khác cho các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập thị trường Việt Nam đó là thông qua Mua bán & Sáp nhập (M&A). Trên thực tế, các trường hợp M&A của các doanh nghiệp F&B đã đóng góp đáng kể vào tổng giao dịch M&A. M&A có thể trở thành một phương thức tiếp cận thị trường hiệu quả và nhanh chóng thông qua việc tiếp quản các cơ sở hạ tầng, thị trường, khách hàng sẵn có. Hơn nữa, về thủ tục hành chính, theo quy định đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài không cần phải nộp đơn xin IRC (Giấy Chứng nhận Đầu tư) khi góp vốn hoặc mua cổ phần của công ty nội địa. Ngoài ra, các giấy phép phụ mà cơ sở hiện tại đã được cấp sẽ giúp quy trình cấp phép mất ít thời gian hơn. Tuy vậy, với các trường hợp M&A, việc vượt qua những khó khăn như thống nhất và cân bằng chiến lược, văn hóa doanh nghiệp, các tiêu chuẩn cần tuân thủ (như sức khỏe, an toàn, môi trường và chất lượng (HSEQ), kế toán và báo cáo tài chính, công tác xã hội, thuế, v..v..) giữa doanh nghiệp hiện thời và nhà đầu tư mới sẽ luôn là vấn đề thiết yếu.

An toàn vệ sinh thực phẩm

Với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp thực phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm luôn là vấn đề cần được xem xét cẩn thận. Các nhà đầu tư cần biết đây là vấn đề đáng báo động ở Việt Nam trong nhiều năm nay và chính phủ Việt Nam đang rất nỗ lực kiểm soát tình hình.

Việt Nam ban hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (thay thế Quy định cũ năm 2003) quy định nhiều khía cạnh về an toàn vệ sinh trên toàn bộ chuỗi cung ứng, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng tham gia sản xuất và kinh doanh thực phẩm. Bằng chứng việc Chính phủ ngày càng quan tâm tới vấn đề này là việc ban hành Nghị định số 15/2018/ND-CP để cung cấp chi tiết các hướng dẫn cho Luật An toàn thực phẩm để tập trung nhiều hơn vào các quy trình sau kiểm tra, áp dụng cho việc thành lập  các cơ sở chế biến thực phẩm.

Thuế và kế toán trong ngành vệ sinh thực phẩm

Một trong các yếu tố chính trong kinh doanh sản xuất thực phẩm là nguyên liệu thô, thường chiếm đáng kể chi phí hoạt động. Trong khi các kế toán viên dựa trên các tài liệu thu mua và các khoản thanh toán thực tế khi mua để ghi nhận chi phí của doanh nghiệp thì được cơ quan thuế công nhận các chi phí này lại là một câu chuyện khác. Theo quy định hiện hành của Việt Nam, các chi phí được ghi nhận cho mục đích thuế (bao gồm Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) và Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) phải liên quan đến hoạt động kinh doanh và phải có hóa đơn hợp pháp cũng như các chứng từ  đi kèm phù hợp. Với việc nguồn cung thực phẩm ở Việt Nam vẫn chủ yếu phụ thuộc vào cá nhân và hộ kinh doanh, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm thường gặp phải vấn đề chung là khi mua nguyên liệu là không có hóa đơn hợp pháp và/hoặc các chứng từ đi kèm tương đương theo yêu cầu của pháp luật (cần lưu ý rằng không phải trong mọi trường hợp hóa đơn đều được yêu cầu, ví dụ như khi mua nông sản trực tiếp từ nông dân, công ty chỉ cần chuẩn bị một danh sách mua hàng được ký bởi đại diện hợp pháp của công ty). Thất bại trong việc lưu giữ các chứng từ cần thiết sẽ dẫn đến việc miễn khấu trừ các khoản thanh toán/chi phí đó, và khiến khoản lợi nhuận chịu đánh thuế TNDN cao hơn và đầu vào GTGT có thể khấu trừ thấp hơn. Từ góc độ kiểm soát nội bộ, vì trả tiền mặt khi giao hàng là phương pháp thanh toán truyền thống và phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện thị trường này, việc này khiến các doanh nghiệp phải thiết lập các biện pháp kiểm soát gian lận phù hợp.

Mặt khác, các chi phí liên quan đến vật liệu bị thiệt hại/ hư hỏng cũng cần được quan tâm. Hầu hết các loại thực phẩm tự nhiên đều có thời gian sử dụng ngắn và dễ hư hỏng. Do vậy, thiệt hại và hư hỏng có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong chuỗi chế biến thực phẩm: do côn trùng tàn phá, do va chạm vật lý, nhiễm trùng vi khuẩn, v…v... hoặc do công nghệ hoặc con người xử lý không đúng cách. Từ góc độ kinh doanh, nếu thực phẩm không được kiểm soát và bảo quản đúng cách sẽ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, và tác động tài chính sẽ còn lớn hơn khi chi phí đó không được khấu trừ. Cụ thể, chỉ những tổn thất do thiên tai, dịch bệnh hoặc hỏa hoạn hoặc hư hỏng thực phẩm do hết hạn hoặc quá trình sinh hóa tự nhiên mà không được bồi thường sẽ được coi là chi phí được khấu trừ cho doanh nghiệp; và chứng từ thích hợp phải được lưu giữ đúng theo yêu cầu của pháp luật. Ví dụ, các tài liệu yêu cầu chứng tỏ thực phẩm hư hỏng do hết hạn hoặc thay đổi quá trình sinh hóa tự nhiên bao gồm một văn bản viết tay giải thích việc thực phẩm bị hư hỏng; danh sách thực phẩm bị hư hỏng (ghi rõ giá trị thiệt hại, nguyên nhân thiệt hại, chủng loại, số lượng, giá trị của hàng hóa có thể thu hồi (nếu có), báo cáo đầu vào/ đầu ra của hàng hóa, v…v…) được ký bởi người đại diện pháp luật; hồ sơ bồi thường được chấp nhận bởi công ty bảo hiểm (nếu có) và hồ sơ xác định trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ bồi thường (nếu có). Mặc dù không có hạn mức hay giới hạn về mức độ tổn thất được phép khấu trừ, cơ quan thuế có xu hướng rất thận trọng và yêu cầu giải thích kỹ lưỡng trong từng trường hợp.

Chính phủ áp dụng một số ưu đãi thuế TNDN, bao gồm thuế suất ưu đãi (10% hoặc 17%) và thời gian miễn thuế (miễn thuế trong vài năm đầu và giảm 50% thuế trong những năm sau đó), cho các dự án đầu tư liên quan đến một số hoạt động kinh doanh thực phẩm nhất định (gồm các doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến; trồng trọt; canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; sản xuất, nhân giống và lai tạo giống cây trồng và giống vật nuôi; sản xuất muối, khai thác và lọc hóa dầu, v…v..) hoặc ở các vùng nhất định (khu vực kinh tế đặc biệt hoặc khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn.) Một số ưu đãi thuế TNDN khác được dành cho các doanh nghiệp sản xuất hoạt động với tỷ lệ nhân viên nữ hoặc nhân viên dân tộc thiểu số cao. Quốc hội Việt Nam ban hành Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), hứa hẹn ưu đãi thuế TNDN đặc biệt cho các doanh nghiệp nhỏ bao gồm cả thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế nhất định. Thông tin cụ thể về ưu đãi thuế TNDN cho các DNVVN sẽ được cập nhật trong Luật thuế TNDN.

Đầu tư khôn ngoan dựa vào lợi thế cạnh tranh và tuân thủ pháp luật

Nhìn chung, ngành công nghiệp thực phẩm đã và đang chứng tỏ mình là một sân chơi hứa hẹn, nơi mà các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể tận dụng và phát huy lợi thế cạnh tranh của mình. Một trong những chìa khóa để duy trì sự phát triển bền vững là luôn nắm được các yêu cầu khác nhau của luật và quy định hiện hành để đảm bảo tuân thủ và đưa ra chiến lược hợp lý.

 

Tác giả: Đỗ Thanh Tâm và Nguyễn Thị Hồng Hoa

Bản quyền thuộc về Mazars ©2018.

Partner and Director in charge